Phương pháp làm việc Hồ Chí Minh
Phương pháp làm việc có vai trò trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bởi nếu có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nhưng phương pháp công tác thiếu khoa học, xa rời thực tiễn thì khó chuyển hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành kết quả cụ thể. Trong di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương pháp làm việc được thể hiện nhất quán trong cách Người xác định mục tiêu, nhận thức và xử lý thực tiễn, quan hệ với quần chúng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Người yêu cầu cán bộ phải có tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; coi trọng việc điều tra, nghiên cứu, chống chủ quan, quan liêu, đại khái và xuất phát từ điều kiện thực tế. Trong quan hệ với quần chúng, Người đề cao yêu cầu “sát quần chúng, hợp quần chúng”(1), coi đây là cơ sở để lựa chọn cách làm và tổ chức thực hiện phù hợp. Những chỉ dẫn đó cho thấy phương pháp làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất, trong đó xác định đúng mục tiêu, xuất phát từ thực tiễn, dựa vào nhân dân, lựa chọn cách làm phù hợp và tổ chức thực hiện hiệu quả có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất, phương pháp làm việc Hồ Chí Minh trước hết thể hiện ở việc xác định đúng mục tiêu và lấy lợi ích của Đảng, của nhân dân làm điểm xuất phát, căn cứ định hướng mọi suy nghĩ và hành động của người cán bộ.
Theo Người, cán bộ, đảng viên phải có tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, không lệ thuộc, bắt chước, theo đuôi; phải tự làm chủ suy nghĩ, công việc và hành động của mình, đồng thời đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Người căn dặn: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”(2), qua đó nhấn mạnh trách nhiệm tiên phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Đặc biệt, trong giải quyết công việc, Người yêu cầu phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, nghĩa là đặt việc công lên trên, lên trước việc tư; đã phụ trách việc gì thì phải tận tâm, tận lực làm cho kỳ được; việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Như vậy, xác định mục tiêu đúng không chỉ là lựa chọn đích đến của công việc mà còn là cơ sở để người cán bộ xác định thái độ, trách nhiệm và cách thức hành động. Khi lợi ích của Đảng, của đất nước và của nhân dân được xác định là mục tiêu cao nhất, cán bộ sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Đây là điểm xuất phát có ý nghĩa định hướng cho các phương pháp làm việc tiếp theo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ hai, phương pháp làm việc Hồ Chí Minh thể hiện rõ ở yêu cầu coi trọng điều tra, nghiên cứu, nắm chắc thực tiễn trước khi xác định chủ trương, kế hoạch và biện pháp hành động.
Người đặc biệt phê phán bệnh chủ quan, quan liêu, đại khái, bởi đây là những căn bệnh dễ dẫn đến nhận định không đúng tình hình, đề ra chủ trương thiếu cơ sở và tổ chức thực hiện kém hiệu quả. Người yêu cầu: “Phải chống bệnh chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái. Phải xây dựng tác phong điều tra, nghiên cứu trong mọi công tác cũng như trong khi định ra mọi chính sách của Đảng và của Nhà nước”(3). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều tra, nghiên cứu không dừng ở việc thu thập thông tin mà phải gắn với nắm vững quy luật vận động của thực tiễn, phân tích cụ thể những điều kiện và khả năng thực hiện. Người chỉ rõ: “Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể. Kế hoạch phải chắc chắn, cân đối”(4), đồng thời cảnh báo: “Chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế”(5). Như vậy, cán bộ phải biết tìm hiểu tình hình, phân biệt đúng bản chất với hiện tượng, nhận diện thuận lợi và khó khăn, từ đó lựa chọn mục tiêu, nội dung và biện pháp phù hợp. Trên cơ sở điều tra, nghiên cứu đầy đủ, kế hoạch công tác mới có cơ sở khoa học, sát thực tế và khả thi; quá trình tổ chức thực hiện cũng có điều kiện chủ động xử lý những vấn đề phát sinh. Phương pháp này đặt ra yêu cầu người cán bộ luôn tôn trọng sự thật khách quan, lấy thực tiễn làm căn cứ để nhận thức, quyết định và kiểm nghiệm hiệu quả công việc. Đây là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa chủ trương và điều kiện thực tế.
Thứ ba, phương pháp làm việc Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc ở việc dựa vào nhân dân, phát huy vai trò, trí tuệ, kinh nghiệm và sức mạnh của nhân dân trong mọi công việc.
Theo Người, cán bộ không thể lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ nếu xa rời quần chúng, mà phải thường xuyên gần dân, sâu sát dân, nắm chắc tình hình, nguyện vọng và những yêu cầu thiết thực của nhân dân. Người yêu cầu phương pháp lãnh đạo, cách tổ chức và cách làm việc phải phù hợp với trình độ, đặc điểm và điều kiện thực tế của quần chúng; đồng thời nhấn mạnh phương châm: “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”(6), coi đó là khuôn phép trong cách làm việc. Dựa vào nhân dân trước hết là biết lắng nghe, tôn trọng và phát huy quyền tham gia của nhân dân. Người chỉ rõ: “Muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói”(7); từ những ý kiến, đề nghị của quần chúng, cán bộ phải biết tập hợp, sắp xếp, phân tích để hình thành những nhận định và phương án phù hợp. Vì vậy, “Người yêu cầu: “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành”(8). Như vậy, nhân dân không chỉ là đối tượng được vận động, tổ chức mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình nhận thức, hoạch định và thực hiện công việc. Phương pháp dựa vào nhân dân đòi hỏi cán bộ phải thực sự cầu thị, biết lắng nghe, tôn trọng và tiếp thu ý kiến từ cơ sở; đồng thời biết khơi dậy, quy tụ và tổ chức sức mạnh của quần chúng thành hành động thực tiễn. Đây cũng là cơ sở để khắc phục bệnh quan liêu, áp đặt, chủ quan, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa cán bộ với nhân dân và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Thứ tư, phương pháp làm việc Hồ Chí Minh còn thể hiện ở khả năng lựa chọn cách làm phù hợp với đối tượng, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, đồng thời luôn chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong tổ chức thực hiện.
Theo Người, không thể áp dụng máy móc một cách làm cho mọi đối tượng, mọi hoàn cảnh; cách tổ chức, cách lãnh đạo, cách tuyên truyền và cách làm việc phải căn cứ vào trình độ, đặc điểm, tâm lý, điều kiện thực tế của quần chúng. Người nhấn mạnh: “Cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại”(9); đồng thời chỉ rõ: “Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra”(10). Những chỉ dẫn đó cho thấy tính linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp Hồ Chí Minh, thể hiện ở khả năng căn cứ vào mục tiêu, thực tiễn và nhu cầu của quần chúng để lựa chọn, điều chỉnh cách thức thực hiện phù hợp. Khi cách làm cũ không còn đáp ứng yêu cầu thực tế, phải mạnh dạn sửa đổi; khi thực tiễn đặt ra vấn đề mới, phải chủ động tìm tòi, đề xuất cách làm mới, không thụ động, chờ đợi. Người cũng yêu cầu cán bộ phải biết điều chỉnh cách nói, cách viết, cách tổ chức và lãnh đạo cho phù hợp với quần chúng, lấy phương châm “sát quần chúng, hợp quần chúng” làm căn cứ trong hoạt động. Vì vậy, phương pháp này đòi hỏi cán bộ phải chống tư tưởng giáo điều, rập khuôn, bảo thủ, đồng thời khắc phục bệnh hình thức, ba hoa, khuôn sáo; biết kết hợp giữa kiên định mục tiêu, nguyên tắc với linh hoạt về cách thức, biện pháp thực hiện. Đây chính là cơ sở để người cán bộ phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao khả năng thích ứng và giải quyết hiệu quả những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn.
Thứ năm, phương pháp làm việc Hồ Chí Minh thể hiện ở sự thống nhất giữa xác định chủ trương, tổ chức thực hiện và nêu gương của người cán bộ; trong đó, hiệu quả công việc là thước đo quan trọng để đánh giá năng lực, trách nhiệm và uy tín của cán bộ, đảng viên.
Theo Người, công việc đã được giao phải được thực hiện với tinh thần tận tâm, tận lực, không dừng lại ở việc đề ra chủ trương, kế hoạch mà phải tổ chức thực hiện đến cùng. Người căn dặn: việc gì đã phụ trách thì phải tận tâm, tận lực làm cho kỳ được, qua đó đề cao trách nhiệm của cán bộ đối với công việc được giao. Cùng với đó, cán bộ phải thực hiện nhất quán phương châm nói đi đôi với làm, biến nhận thức và chủ trương thành hành động cụ thể, lấy kết quả thực tế làm căn cứ đánh giá hiệu quả công tác. Người nhấn mạnh trách nhiệm tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên qua lời căn dặn “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”(11); người cán bộ không chỉ tuyên truyền, vận động quần chúng mà trước hết phải tự mình thực hiện, “phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(12). Nêu gương vì thế không chỉ là yêu cầu về phẩm chất mà còn là phương pháp tổ chức, dẫn dắt quần chúng bằng hành động thực tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Muốn có oai tín thể diện, thì phải làm việc cho giỏi”(13), qua đó khẳng định uy tín của cán bộ không được tạo dựng bằng chức vụ, hình thức hay lời nói mà phải được khẳng định bằng năng lực và kết quả công việc. Vì vậy, tổ chức thực hiện theo phương pháp Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ thường xuyên kiểm tra, tự phê bình, nhận diện hạn chế và kịp thời điều chỉnh cách làm; qua đó bảo đảm công việc được thực hiện thực chất, hiệu quả, tạo niềm tin và sức thuyết phục đối với quần chúng.
Vận dụng phương pháp làm việc Hồ Chí Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay
Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới, năng lực tổ chức thực tiễn và tinh thần phụng sự nhân dân đặt ra đòi hỏi phải chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động, từ học tập sang thực hành phương pháp Hồ Chí Minh trong công tác hằng ngày. Đây cũng là yêu cầu trong Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 13-7-2026, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Chỉ thị chỉ rõ, ở một số nơi việc học tập và làm theo Bác còn hình thức, thiếu chiều sâu, “chưa chú trọng đúng mức việc thực hành, vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh, chưa tạo được chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động”(14). Do đó, vận dụng phương pháp làm việc Hồ Chí Minh hiện nay không dừng ở việc học tập, nhận thức hay làm theo những biểu hiện cụ thể, mà phải được chuyển hóa thành phương pháp công tác thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên: xác định đúng mục tiêu, xuất phát từ thực tiễn, dựa vào nhân dân, lựa chọn cách làm phù hợp, linh hoạt, sáng tạo và tổ chức thực hiện đến cùng, nói đi đôi với làm, nêu gương và lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Trên tinh thần đó, cần tập trung thực hiện một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, xây dựng phương pháp làm việc lấy nhân dân và hiệu quả công việc làm trung tâm.
Mọi hoạt động của cán bộ, đảng viên phải hướng tới lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân, lấy phục vụ nhân dân và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao làm mục tiêu xuyên suốt. Vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh, cán bộ phải đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, đề cao trách nhiệm với công việc được giao, coi kết quả phục vụ nhân dân là căn cứ quan trọng để tự đánh giá phương pháp và hiệu quả công tác. Từ đó, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang phương pháp lãnh đạo, quản lý gắn với phục vụ nhân dân, coi việc giải quyết những vấn đề thiết thực, chính đáng của nhân dân là một tiêu chí quan trọng đánh giá trách nhiệm của cán bộ. Chỉ thị số 07-CT/TW nhấn mạnh yêu cầu thực hành phương pháp Hồ Chí Minh gắn với xây dựng phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, gần dân, sát dân, vì dân, đồng thời lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo(15). Vì vậy, đánh giá cán bộ cần coi trọng sản phẩm, tiến độ, chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, đồng thời quan tâm đến sự hài lòng, tín nhiệm của nhân dân; qua đó khắc phục bệnh hình thức, chạy theo thành tích, vụ lợi, xa dân, thiếu trách nhiệm. Qua thực tiễn công tác, phải hình thành ở mỗi cán bộ phương pháp làm việc thực chất, tận tụy, trách nhiệm, lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm thước đo năng lực và uy tín, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ thực sự vì dân, trọng dân, gần dân và có trách nhiệm trước nhân dân.
Hai là, đổi mới phương pháp lãnh đạo, quản lý theo hướng sâu sát thực tiễn.
Vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh, mỗi quyết định lãnh đạo, quản lý phải được hình thành trên cơ sở nắm chắc thực tiễn, phân tích đúng tình hình, xác định rõ những vấn đề đặt ra, nguyên nhân, thuận lợi, khó khăn và khả năng thực hiện; qua đó hạn chế tình trạng quyết định theo kinh nghiệm chủ quan, áp đặt ý chí hoặc chỉ dựa vào báo cáo một chiều. Sâu sát thực tiễn không chỉ là tăng cường đi cơ sở, nắm tình hình mà quan trọng hơn là phải biết phát hiện đúng vấn đề, nhận diện đúng bản chất, lắng nghe những phản ánh từ thực tiễn và kịp thời điều chỉnh chủ trương, biện pháp khi điều kiện thay đổi. Vì vậy, cần đổi mới phương pháp lãnh đạo, quản lý theo hướng quyết định có căn cứ thực tiễn, kế hoạch có tính khả thi, tổ chức thực hiện sát tình hình và thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh.
Ba là, phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại và dựa vào nhân dân.
Đây là yêu cầu quan trọng nhằm chuyển phương pháp làm việc gần dân, sát dân, dựa vào dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành phương pháp công tác thường xuyên của cán bộ, đảng viên hiện nay. Trước hết, cán bộ phải thực sự coi nhân dân là chủ thể tham gia vào quá trình lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; không chỉ lắng nghe ý kiến mà phải biết tiếp thu, phản hồi, giải trình và giải quyết những vấn đề chính đáng được nhân dân quan tâm. Phát huy dân chủ cần gắn với tăng cường đối thoại, nhất là ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân phản ánh trung thực tình hình, tham gia góp ý, đề xuất giải pháp và giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách. Qua đó, phát huy trí tuệ, kinh nghiệm, nguồn lực và sức mạnh của nhân dân, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nâng cao tính đồng thuận và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ trong thực tiễn.
Bốn là, khuyến khích cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Đây là yêu cầu quan trọng trong vận dụng phương pháp làm việc Hồ Chí Minh, nhất là trước những vấn đề mới, phức tạp nảy sinh từ thực tiễn mà cách làm cũ không còn phù hợp. Đổi mới, sáng tạo phải được đặt trên nền tảng độc lập, tự chủ trong suy nghĩ và hành động, đồng thời xuất phát từ mục tiêu, nguyên tắc và điều kiện thực tế cụ thể. Vận dụng phương pháp của Người là khắc phục tâm lý thụ động, trông chờ, ngại đổi mới, sợ trách nhiệm; tạo môi trường để cán bộ chủ động phát hiện vấn đề, đề xuất sáng kiến, lựa chọn cách làm mới và tổ chức thực hiện vì lợi ích chung. Do đó, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách để khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, có cách làm sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời tạo điều kiện để những sáng kiến phù hợp được thử nghiệm, đánh giá và nhân rộng. Từ đó, hình thành đội ngũ cán bộ có tư duy năng động, phương pháp làm việc linh hoạt, chủ động trước những vấn đề mới, dám hành động và chịu trách nhiệm về kết quả, biến đổi mới, sáng tạo thành động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
Năm là, đề cao trách nhiệm nêu gương, nói đi đôi với làm và lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo.
Đây là yêu cầu trực tiếp trong vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh, bởi phương pháp làm việc chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể và tạo ra kết quả thiết thực. Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa trách nhiệm được giao với kết quả thực hiện; không chỉ đề ra chủ trương, kế hoạch mà phải trực tiếp tổ chức thực hiện, thường xuyên kiểm tra, kịp thời khắc phục hạn chế và chịu trách nhiệm về kết quả công việc. Trước hết, nêu gương thể hiện ở tinh thần tiên phong, ý thức trách nhiệm, thái độ tận tụy với công việc và sự gương mẫu trong chấp hành kỷ luật, kỷ cương; người đứng đầu phải thực sự đi đầu trong những nhiệm vụ khó, vấn đề mới, việc phức tạp, tạo sức lan tỏa trong tổ chức và quần chúng. Qua đó, tạo chuyển biến từ học tập sang thực hành, từ lời nói sang hành động, từ hoàn thành nhiệm vụ theo hình thức sang tạo ra kết quả thực chất, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có trách nhiệm, uy tín, năng lực tổ chức thực tiễn và thực sự nói đi đôi với làm.
Phương pháp làm việc Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất, trong đó xác định đúng mục tiêu, xuất phát từ thực tiễn, dựa vào nhân dân, lựa chọn cách làm phù hợp, linh hoạt, sáng tạo và tổ chức thực hiện đến cùng có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo nên phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, thiết thực và hiệu quả của Người. Vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay phải được thể hiện bằng những chuyển biến cụ thể trong phương pháp công tác: sâu sát thực tiễn, gần dân, trọng dân, biết lắng nghe và dựa vào dân; chủ động đổi mới, sáng tạo; nói đi đôi với làm; nêu gương trong hành động và lấy kết quả thực tế làm căn cứ đánh giá. Qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự có bản lĩnh, năng lực tổ chức thực tiễn, tinh thần trách nhiệm và ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong giai đoạn phát triển mới./.
--------------------------------
(1), (6) , (7), (9) , (10), (13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.287, tr.288, tr.335, tr.286, tr.286, tr.241
(2), (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.546
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 13, tr.71
(8), (12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.233, tr.16
(14), (15) Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 13-7-2026, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/chi-thi-so-07-ct-tw-ngay-13-7-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-day-manh-hoc-tap-thuc-hanh-tu-tuong-dao-duc-phuong-phap-phong-cac.html
TS NGUYỄN THỊ MINH THÙY
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1306102/phuong-phap-lam-viec-ho-chi-minh-va-van-dung-trong-xay-dung-doi-ngu-can-bo%2C-dang-vien-hien-nay.aspx#